Ngày 15/4, tại trụ sở Công ty TNHH MTV Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC), Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức Tọa đàm “Nợ xấu trong bối cảnh mới”.
Phát biểu khai mạc toạ đàm TS. Nguyễn Quốc Hùng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam dẫn số liệu sơ bộ cho thấy, tỷ lệ nợ xấu nội bảng và nợ xấu tiềm ẩn hiện ở mức khoảng trên 2,8%. Theo ông Hùng, nếu nguồn lực này được khai thác và đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh, hiệu quả kinh tế mang lại sẽ vô cùng to lớn. Điều này không chỉ giúp giảm chi phí cho các tổ chức tín dụng, mà còn đưa dòng vốn trở lại lưu thông, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

TS. Nguyễn Quốc Hùng cũng nhìn nhận, với thực trạng nợ xấu hiện nay, nếu không có giải pháp quyết liệt và sự hỗ trợ tích cực từ các cấp, các ngành, thì bản thân ngành Ngân hàng không thể đơn phương xử lý. Điều này sẽ trở thành gánh nặng lớn đối với hệ thống ngân hàng, làm gia tăng chi phí, hạn chế khả năng giảm lãi suất cho vay đối với doanh nghiệp, đồng thời làm ách tắc dòng vốn, ảnh hưởng đến mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Theo ông Đặng Đình Thích, Quyền Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Quản lý tài sản của các Tổ chức Tín dụng Việt Nam (VAMC), trong bối cảnh nền kinh tế đang trong quá trình phục hồi nhưng còn nhiều rủi ro từ cả bên ngoài và nội tại, câu chuyện nợ xấu không còn là vấn đề mang tính kỹ thuật của riêng hệ thống ngân hàng, mà đã trở thành một nội dung có ý nghĩa vĩ mô, gắn trực tiếp với ổn định tài chính và dư địa tăng trưởng của nền kinh tế.

Nói về thực trạng nợ xấu, ông Đặng Đình Thích cho biết, đây là áp lực hiện hữu và rủi ro tích tụ. Trong những năm qua, đặc biệt sau giai đoạn triển khai các chính sách hỗ trợ nền kinh tế, hệ thống các tổ chức tín dụng đã có nhiều nỗ lực trong kiểm soát và xử lý nợ xấu, góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định hệ thống tài chính - ngân hàng.
Tuy nhiên, bước sang giai đoạn hiện nay, trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, lạm phát và lãi suất duy trì ở mức cao tại nhiều nền kinh tế lớn, cầu tiêu dùng và đầu tư toàn cầu suy giảm, hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp trong nước cũng chịu nhiều tác động tiêu cực.
Trong bối cảnh đó, nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng đang phải đối mặt với nhiều áp lực gia tăng.
Mặc dù tỷ lệ nợ xấu nội bảng vẫn đang được kiểm soát trong giới hạn cho phép, nhưng nếu nhìn một cách toàn diện, có thể thấy rõ một số xu hướng đáng lưu ý như: nợ xấu tiềm ẩn và các khoản nợ đã được cơ cấu lại vẫn còn lớn, phản ánh những khó khăn chưa được xử lý triệt để của khu vực doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, nhóm nợ có mức độ rủi ro cao vẫn chiếm tỷ trọng đáng kể, trong khi nợ cần chú ý, vốn được coi là “vùng đệm cảnh báo sớm”, có xu hướng gia tăng.
Rủi ro nợ xấu có tính chất tập trung theo ngành, lĩnh vực, đặc biệt là bất động sản, xây dựng, xuất khẩu và các ngành phụ thuộc lớn vào thị trường quốc tế.
Mặt khác, một phần nợ xấu chưa được phản ánh đầy đủ, trong bối cảnh thị trường tài sản biến động, thanh khoản chưa cải thiện rõ nét và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế còn hạn chế.
“Những yếu tố này cho thấy một thực tế quan trọng: Nợ xấu hiện nay không chỉ là vấn đề của quá khứ, mà còn là rủi ro đang tích tụ cho tương lai. Nếu không có giải pháp xử lý đồng bộ, kịp thời và đủ mạnh, nợ xấu hoàn toàn có thể quay trở lại theo chu kỳ mới, tạo áp lực lớn lên hệ thống ngân hàng và nền kinh tế”, Quyền Tổng Giám đốc VAMC nhận định.

Còn theo TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV và Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia, hoạt động tín dụng và xử lý nợ xấu tại Việt Nam đang đối mặt với một số thách thức đặc thù so với thông lệ quốc tế: Quyền chủ nợ chưa được bảo vệ tương xứng, thường có xu hướng thiên vị bên đi vay; Thời gian xử lý nợ xấu quá dài, thường tính bằng năm hoặc thập kỷ do thị trường mua bán nợ gần như chưa có gì.
Với tổng dư nợ tín dụng hiện khoảng 19 triệu tỷ đồng, chỉ cần tỷ lệ nợ xấu ở mức 2% cũng tương đương quy mô khoảng 380.000 tỷ đồng. Nếu tính cả nợ xấu tiềm ẩn, con số này còn lớn hơn đáng kể.
Đáng chú ý, tín dụng liên tục tăng nhanh hơn huy động vốn, khiến áp lực thanh khoản gia tăng rõ rệt từ quý IV/2025 đến nay. “Nếu không có các giải pháp kịp thời, sức ép này có thể chuyển hóa thành rủi ro đối với an toàn hệ thống”, TS. Cấn Văn Lực cảnh báo.
Chia sẻ tại toạ đàm, các chuyên gia đều có chung nhận định, năm 2026 được xem là năm bản lề đối với hệ thống các TCTD. Việc giải quyết nhanh, dứt điểm các khoản nợ xấu không chỉ giúp cải thiện hệ số an toàn vốn và khả năng sinh lời, mà còn mở ra dư địa cho tăng trưởng tín dụng trong chu kỳ mới. Một trong những động lực chính cho điều này đến từ cơ chế.
