Nghịch lý ngành viễn thông: Hạ tầng của kỷ nguyên số, nhưng lại tăng trưởng chậm hơn nền kinh tế số 5-6 lần, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nêu lý do

Hoàng Nguyễn | 12:34 12/01/2026

Theo Bộ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng, mô hình tăng trưởng truyền thống của ngành viễn thông hiện nay đã chạm tới giới hạn. Trong khi dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và kinh tế số đang bùng nổ mạnh mẽ trên toàn cầu, thì doanh thu viễn thông lại tăng trưởng chậm.

Nghịch lý ngành viễn thông: Hạ tầng của kỷ nguyên số, nhưng lại tăng trưởng chậm hơn nền kinh tế số 5-6 lần, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nêu lý do

Mới đây, tại Hà Nội, Khối các đơn vị lĩnh vực Bưu chính Viễn thông (BCVT) của Bộ KH&CN gồm 6 đơn vị: Cục Tần số Vô Tuyến điện (ARFM), Cục Bưu điện Trung ương (CPT), Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC), Cục Viễn thông (VNTA), Vụ Bưu chính, Quỹ Dịch vụ Viễn thông Công ích Việt Nam (VTCI) đã tổ chức hội nghị triển khai chương trình công tác năm 2026.

Báo cáo về những kết quả hoạt động nổi bật của Khối, ông Lê Văn Tuấn, Cục trưởng Cục Tần số Vô tuyến điện (VTĐ) nhấn mạnh, trong năm 2025, khối BCVT đã hoàn thành một khối lượng lớn số văn bản quy phạm pháp luật (QPPL). Số lượng văn bản hoàn thành chiếm hơn 30% số lượng văn bản QPPL của cả nhiệm kỳ 2020 - 2025. Khối có 3 luật, thì trong nhiệm kỳ đã hoàn thành sửa 2 luật, còn luật Bưu chính sẽ được sửa đổi trong năm 2026.

Năm 2025 là năm bứt phá của hạ tầng số Việt Nam, cả về tốc độ, quy mô và độ bao phủ, thể hiện qua một số chỉ tiêu nổi bật như: Internet băng rộng cố định tăng 4,5 lần, xếp hạng 11 thế giới, tăng 49 bậc so với đầu nhiệm kỳ. Internet băng rộng di động tăng 4,7 lần so với đầu nhiệm kỳ, gấp 2 lần so với 2024, xếp hạng 17 thế giới, tăng 45 bậc, đạt tốc độ 160 Mbps.

Hạ tầng 4G phủ sóng đạt 99,48% dân số; 5G tăng trưởng đột phá với vùng phủ từ 0,93% năm 2023 lên 90,2% (2025), số trạm 5G từ 184 tăng lên 35.304 trạm. Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng cáp quang đạt 87,6% năm 2025. Năm 2025 cũng ghi dấu ấn khi Việt Nam cũng được Gartner ghi nhận là 1 trong 5 quốc gia đầu tiên sản xuất được thiết bị 5G.

Về lĩnh vực bưu chính, giai đoạn 2020 - 2025 ghi nhận sự phát triển rất nhanh và ổn định của lĩnh vực bưu chính với mức tăng trưởng doanh thu bưu chính bình quân 18,6%/năm, tăng trưởng sản lượng bưu gửi bình quân 31,5%/năm. Năm 2025, doanh thu dịch vụ bưu chính đạt 87.000 tỷ đồng, sản lượng bưu gửi đạt 4,2 tỷ bưu gửi, phục vụ nhu cầu đa dạng của xã hội.

Trước các kết quả đạt được của Khối BCVT trong năm 2025 cũng như cả giai đoạn 5 năm, Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Mạnh Hùng ghi nhận và đánh giá cao những nỗ lực của 6 đơn vị.

Bộ trưởng chia sẻ, năm 2025 là một năm đặc biệt, mang tính bước ngoặt đối với Việt Nam, khi đất nước chính thức xác lập một mục tiêu phát triển có tầm nhìn dài hạn và đầy thách thức.

Trong vòng 20 năm tới, quy mô GDP sẽ tăng xấp xỉ 5 lần, đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao. Đây là mục tiêu rất lớn, thậm chí chưa có nhiều quốc gia trên thế giới từng đặt ra với mức độ tham vọng cao như vậy trong một khoảng thời gian tương đối ngắn.

Đặt mục tiêu đó trong bối cảnh hiện nay, Bộ trưởng thẳng thắn nhìn nhận rằng, ngành Viễn thông đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình và đang đứng trước một ngã rẽ mang tính chiến lược.

Trong nhiều thập kỷ qua, viễn thông Việt Nam đã làm được điều mang tính nền tảng, phổ cập kết nối cả cố định và di động, đưa Internet đến với mọi người dân, mọi vùng miền, tạo dựng hạ tầng thiết yếu cho công cuộc chuyển đổi số quốc gia.

"Đây là một thành tựu có ý nghĩa lịch sử, đặt nền móng cho sự phát triển của kinh tế số và xã hội số", Bộ trưởng khẳng định.

'Nghịch lý' phát triển của ngành viễn thông trong kỷ nguyên số

Tuy nhiên, Bộ trưởng chỉ rõ rằng, mô hình tăng trưởng truyền thống của ngành viễn thông hiện nay đã chạm tới giới hạn. Tăng trưởng dựa trên số lượng thuê bao, lưu lượng sử dụng hay doanh thu bình quân trên mỗi thuê bao không còn nhiều dư địa mở rộng. Từ 3G, 4G đến 5G, nếu chỉ dừng lại ở việc nâng cấp "G" cao hơn, giá trị gia tăng tạo ra là rất hạn chế.

Trong khi đó, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và kinh tế số đang bùng nổ mạnh mẽ trên toàn cầu, thì doanh thu viễn thông lại tăng trưởng chậm, thậm chí thấp hơn đáng kể so với tốc độ phát triển của nền kinh tế số.

Bộ trưởng chỉ ra một nghịch lý đáng suy ngẫm, viễn thông là hạ tầng của kỷ nguyên số, nhưng chính ngành viễn thông lại đang tăng trưởng chậm hơn nền kinh tế số từ 5 đến 6 lần.

Theo Bộ trưởng, nguyên nhân cốt lõi nằm ở chỗ tư duy phát triển của ngành vẫn chủ yếu xoay quanh vai trò cung cấp kết nối, trong khi thế giới đã chuyển mạnh sang cung cấp năng lực số. Đây là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau.

"Nếu viễn thông chỉ tiếp tục bán phút gọi hay từng gigabyte dữ liệu, thì giá trị ngày càng giảm, cạnh tranh ngày càng khốc liệt, biên lợi nhuận ngày càng mỏng, cuối cùng sẽ không còn đủ nguồn lực để tái đầu tư cho hạ tầng", Bộ trưởng cho biết.

Từ thực tế đó, Bộ trưởng nhấn mạnh, đã đến lúc phải chuyển đổi từ các công ty viễn thông truyền thống (TelCo) sang các công ty hạ tầng, cụ thể là hạ tầng số (Infrastructure Company). Đây không chỉ là một sự điều chỉnh chiến lược, mà là một chuyển dịch mang tính sống còn. Viễn thông không thể chỉ được nhìn nhận là hạ tầng kết nối, mà phải trở thành hạ tầng năng lực số của toàn bộ nền kinh tế.

Sự chuyển đổi này đồng nghĩa với việc viễn thông không chỉ bán băng thông, mà phải cung cấp các gói dịch vụ năng lực số hoàn chỉnh, bao gồm điện toán đám mây (Cloud), trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu (Data), an toàn – an ninh mạng (Security), Internet vạn vật (IoT) và các nền tảng số.

Những dịch vụ này cần được coi như một loại "điện mới" – hạ tầng đầu vào thiết yếu cho doanh nghiệp và xã hội trong kỷ nguyên số. Viễn thông phải trở thành nhà cung cấp năng lực số trọn gói, thay vì chỉ là nhà vận hành mạng lưới.

Theo Bộ trưởng, vai trò lịch sử của ngành viễn thông trong giai đoạn tới là đứng ra làm đầu mối kết nối, tích hợp các thành tố công nghệ đó thành những dịch vụ hoàn chỉnh cung cấp cho xã hội. Ngành có thể không sở hữu toàn bộ các thành phần công nghệ, nhưng là chủ thể hiếm hoi có đủ năng lực, vị thế và hạ tầng để "đóng gói" và tích hợp chúng thành giải pháp tổng thể.

Trong bối cảnh đó, công nghệ 5G không được hiểu đơn thuần là tốc độ nhanh hơn. Bộ trưởng khẳng định, nếu 5G chỉ để xem video nét hơn hay tải dữ liệu nhanh hơn, thì 5G sẽ thất bại về mặt kinh tế. 5G chỉ thực sự phát huy giá trị khi được triển khai sâu vào các lĩnh vực sản xuất và dịch vụ có giá trị gia tăng cao như nhà máy, cảng biển, logistics, y tế, năng lượng và đô thị thông minh, để trở thành hạ tầng của sản xuất, của đổi mới sáng tạo và của tăng trưởng chất lượng cao.

bo-truong-phat-bieu-01-17680933698411267778232.jpg
Bộ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng

Ngành Viễn thông cần phải thoát khỏi "vùng an toàn"

Trong giai đoạn phát triển mới, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh rằng ngành Viễn thông Việt Nam đã được Nhà nước giữ trong "vùng an toàn" suốt nhiều năm qua, nhưng cách tiếp cận đó không còn phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ và chuyển đổi số toàn cầu ngày càng gay gắt. Đã đến lúc phải thoát khỏi tư duy quản lý cũ, chuyển từ quản lý hạ tầng viễn thông đơn thuần sang quản trị hạ tầng chiến lược quốc gia.

Bộ trưởng thẳng thắn chỉ rõ, nếu viễn thông không thúc đẩy được sự phát triển của nền kinh tế, thì chính nền tảng của tăng trưởng quốc gia cũng sẽ bị suy yếu. Viễn thông không còn là lĩnh vực "ổn định để giữ", mà phải trở thành lĩnh vực sáng tạo để dẫn dắt. Trong bối cảnh đó, đổi mới không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu bắt buộc đối với toàn ngành.

Sự thay đổi mang tính căn cơ này, theo Bộ trưởng, phải bắt đầu từ chính quản lý nhà nước. Trước hết là sự chuyển dịch tư duy từ quản lý tần số thuần túy sang quản lý tần số vì mục tiêu phát triển, thay vì chỉ tập trung tối đa hóa kết quả đấu thầu. Đồng thời, quản lý nhà nước cần chuyển từ mô hình cấp phép truyền thống sang thiết kế "luật chơi mới", xây dựng các khung chính sách thử nghiệm (sandbox) để tạo không gian cho đổi mới sáng tạo.

Nhà nước không làm thay doanh nghiệp, nhưng có trách nhiệm mở đường về thể chế, cho phép thử nghiệm các mô hình kinh doanh mới, dịch vụ mới và chấp nhận những thất bại có kiểm soát. Đây chính là nhiệm vụ mới, thậm chí là một "nghề mới" của quản lý nhà nước trong lĩnh vực viễn thông.

Thay vì chỉ tập trung vào các hoạt động quản lý quen thuộc như cấp phép, xử lý SIM rác, quản lý giá cước hay khuyến mại, trọng tâm cần được dịch chuyển sang thiết kế mô hình phát triển mới, xây dựng sandbox và đồng hành cùng doanh nghiệp trong quá trình thử nghiệm các dịch vụ số thế hệ mới.

Bộ trưởng khẳng định, ngành Viễn thông Việt Nam không hề yếu, nhưng đang đứng trước nguy cơ "già đi" rất nhanh nếu không quyết liệt đổi mới. Nếu tiếp tục vận hành theo quán tính cũ, ngành có thể đánh mất vai trò dẫn dắt trong kỷ nguyên số. Tuy nhiên, Bộ trưởng bày tỏ niềm tin rằng viễn thông Việt Nam hoàn toàn có đủ năng lực để bước vào một chu kỳ tăng trưởng mới, một cuộc đổi mới lần thứ hai, diễn ra sau gần 40 năm kể từ cuộc đổi mới lần thứ nhất mang tính lịch sử.

Trong tầm nhìn dài hạn, viễn thông của 10 năm tới không chỉ dừng lại ở việc kết nối con người, mà phải kết nối sản xuất, kết nối tri thức và kết nối tương lai. Viễn thông phải trở thành hạ tầng sản xuất và hạ tầng tri thức của quốc gia, đóng vai trò nền tảng cho đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Để hiện thực hóa mục tiêu đó, Bộ trưởng nhấn mạnh rằng quản lý nhà nước về viễn thông phải thay đổi toàn diện, từ thể chế đến phương thức quản lý, từ tư duy kiểm soát sang tư duy kiến tạo. Chỉ khi thực sự đóng vai trò kiến tạo phát triển, quản lý nhà nước mới có thể thúc đẩy được cuộc chuyển đổi mang tính lịch sử của ngành Viễn thông, đưa lĩnh vực này trở thành một trong những trụ cột quan trọng của mô hình phát triển quốc gia trong kỷ nguyên số.


(0) Bình luận
Nghịch lý ngành viễn thông: Hạ tầng của kỷ nguyên số, nhưng lại tăng trưởng chậm hơn nền kinh tế số 5-6 lần, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nêu lý do
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO