Đến hết năm 2026 cơ bản nối thông đường Hồ Chí Minh
Theo Bộ trưởng Trần Hồng Minh, dự án đường Hồ Chí Minh có điểm đầu tại Pác Bó (Cao Bằng), điểm cuối tại Đất Mũi (Cà Mau) với chiều dài 3.183km (tuyến chính dài 2.499km, nhánh phía Tây dài 684km), quy mô từ 2-6 làn xe; đến hết năm 2026 cơ bản nối thông đường Hồ Chí Minh.
Về mục tiêu, nhằm tạo sự liên thông ở khu vực phía Tây Tổ quốc và sự liên hệ chặt chẽ ba miền Bắc - Trung - Nam; hình thành hệ thống cơ sở hạ tầng để khai thác tiềm năng ở phía Tây Tổ quốc; giảm tải cho quốc lộ 1; bảo đảm giao thông thông suốt, góp phần bảo đảm phòng thủ biên giới, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, quốc phòng; giáo dục truyền thống, niềm tự hào dân tộc cho các thế hệ mai sau.
Về kết quả đạt được, Bộ trưởng Xây dựng cho biết mục tiêu nối thông toàn tuyến từ Pác Bó (Cao Bằng) đến Đất Mũi (Cà Mau) với quy mô từ 2 làn xe đến năm 2020 đã hoàn thành 2.465 km; giai đoạn từ năm 2021-2026 tiếp tục đầu tư 191,5km, đảm bảo mục tiêu nối thông toàn tuyến.
Về thực hiện mục tiêu sau năm 2020 tiến hành nâng cấp các đoạn, tuyến theo tiêu chuẩn đường cao tốc, Chính phủ đã triển khai đầu tư hơn 770km đường cao tốc, bao gồm khoảng 482km đi trùng cao tốc Bắc - Nam phía Đông từ Diễn Châu (Nghệ An) đến Túy Loan (Đà Nẵng) và khoảng 295km cao tốc Bắc - Nam phía Tây và các tuyến cao tốc khác đi qua các vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và Tây Nguyên cũng như đầu tư các tuyến nhánh kết nối với các cửa khẩu lớn (như cửa khẩu Sóc Giang, tỉnh Cao Bằng; cửa khẩu Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị; cửa khẩu Bờ Y, tỉnh Quảng Ngãi...) nhằm tăng cường tính kết nối vùng miền, thúc đẩy năng lực giao thương quốc tế với các nước láng giềng.
Theo đó, dự án đã cơ bản hoàn thành nối thông tuyến từ Pác Bó (Cao Bằng) đến Đất Mũi (Cà Mau) quy mô tối thiểu 2 làn xe, góp phần hoàn thành mục tiêu chiến lược của đất nước là hoàn thành 5.000km đường bộ cao tốc vào năm 2030.

Bộ trưởng Trần Hồng Minh cho biết bên cạnh những thành tựu đã đạt được, trong quá trình triển khai dự án vẫn còn một số tồn tại, hạn chế từ công tác chuẩn bị đầu tư, giải phóng mặt bằng, thực hiện đầu tư đến giai đoạn khai thác. Các tồn tại, hạn chế, nguyên nhân và trách nhiệm của các cơ quan liên quan đã được Chính phủ phân tích, làm rõ.
Trong quá trình triển khai, một số dự án thành phần phải điều chỉnh tiến độ, quy mô, chi phí đầu tư do một số nguyên nhân như: Năng lực dự báo và quản trị rủi ro của một số chủ đầu tư còn hạn chế, chưa chủ động xây dựng các kịch bản ứng phó với biến động thị trường, đặc biệt là về vật liệu và biến động giá.
Công tác khảo sát, lập dự án tại một số ít dự án chưa triệt để, giải pháp thiết kế chưa tối ưu dẫn đến phải điều chỉnh, bổ sung trong quá trình thi công làm kéo dài thời gian và phát sinh chi phí đầu tư.
Sự thiếu quyết liệt của một số địa phương trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng dẫn đến tiến độ bàn giao mặt bằng chậm, ảnh hưởng nhiều đến tiến độ thi công các dự án.
Theo Bộ trưởng, trên cơ sở tổng kết thực tiễn, Chính phủ đã đúc kết được các bài học kinh nghiệm về công tác lãnh đạo, chỉ đạo; xây dựng cơ chế, chính sách; công tác quy hoạch; huy động nguồn lực; áp dụng các công nghệ mới, chuyển đổi số và tổ chức, thực hiện; nâng cao kỷ luật, kỷ cương trong đầu tư công.
Chính phủ kiến nghị Quốc hội xem xét, ban hành Nghị quyết về kết thúc việc thực hiện các mục tiêu tại Nghị quyết số 38/2004/QH11 và Nghị quyết số 66/2013/QH13 về chủ trương đầu tư xây dựng đường Hồ Chí Minh gồm các nội dung: Thông qua Báo cáo tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 66/2013/QH13 ngày 29/11/2013 của Quốc hội về điều chỉnh một số nội dung và giải pháp nhằm tiếp tục thực hiện có hiệu quả chủ trương đầu tư xây dựng đường Hồ Chí Minh.
Giao Chính phủ khẩn trương hoàn thành thủ tục quyết toán các dự án thành phần đã đưa vào khai thác; chậm nhất đến hết năm 2027 hoàn thành toàn bộ công tác quyết toán và chính thức kết thúc dự án đường Hồ Chí Minh quy mô 2 làn xe.
Rà soát, cân đối sớm bố trí nguồn vốn để đầu tư đoạn Cổ Tiết - Yên Bái; triển khai các đoạn tuyến trên đường Hồ Chí Minh theo quy hoạch, phù hợp nhu cầu vận tải, khả năng cân đối nguồn lực và hiệu quả đầu tư.
Chỉ đạo Bộ Xây dựng phối hợp với các bộ, ngành, địa phương, nhà đầu tư và doanh nghiệp dự án đẩy nhanh tiến độ tháo gỡ vướng mắc tại một số dự án BOT giao thông (trong đó bao gồm các dự án BOT trên đường Hồ Chí Minh), bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người dân.
Thống nhất lùi thời gian khai thác đoạn Rạch Sỏi - Bến Nhất, Gò Quao - Vĩnh Thuận sang quý I/2027
Báo cáo thẩm tra Tờ trình và dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về việc kết thúc việc thực hiện các mục tiêu đề ra tại Nghị quyết số 38/2004/QH11 và Nghị quyết số 66/2013/QH13 của Quốc hội về chủ trương đầu tư xây dựng đường Hồ Chí Minh, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải nhấn mạnh, về sự cần thiết ban hành Nghị quyết và đánh giá chung kết quả thực hiện, Ủy ban KH,CN&MT cơ bản tán thành với sự cần thiết ban hành Nghị quyết nhằm chính thức kết thúc giai đoạn nối thông tuyến quy mô 02 làn xe, tạo căn cứ pháp lý chuyển tiếp sang giai đoạn đầu tư nâng cấp, mở rộng theo Quy hoạch mạng lưới đường bộ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Ủy ban nhận thấy, sau hơn 20 năm triển khai, dự án đường Hồ Chí Minh (tổng chiều dài 3.183 km) dự kiến đến hết năm 2026 cơ bản hoàn thành mục tiêu nối thông toàn tuyến từ Pác Bó (Cao Bằng) đến Đất Mũi (Cà Mau) quy mô tối thiểu 02 làn xe.
Công trình đã phá vỡ thế độc đạo, hình thành trục giao thông xuyên Việt thứ hai ở phía Tây Tổ quốc, gắn với 08 làng thanh niên lập nghiệp và kết nối các cửa khẩu quốc tế (Sóc Giang, Lao Bảo, Bờ Y, Hoa Lư; khớp nối hướng tuyến kết nối Lào và Campuchia), đóng góp quan trọng vào việc xóa đói giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN), giữ vững quốc phòng, an ninh và chủ quyền biên giới quốc gia.
Tuy nhiên, Báo cáo thẩm tra cũng chỉ rõ, việc triển khai dự án còn một số tồn tại, hạn chế. Một là, tiến độ nối thông toàn tuyến chậm khoảng 06 năm so với mục tiêu năm 2020 tại Nghị quyết số 66/2013/QH13 (phải điều chỉnh qua Nghị quyết số 63/2022/QH15 và Nghị quyết số 265/2025/QH15); mốc hoàn thành cuối năm 2026 vẫn là dự kiến, riêng đoạn Rạch Sỏi - Bến Nhất, Gò Quao - Vĩnh Thuận lùi thời gian đưa vào khai thác sang quý I/2027.

Lùi thời gian khai thác đoạn Rạch Sỏi - Bến Nhất, Gò Quao - Vĩnh Thuận sang quý I/2027
Hai là, công tác giải phóng mặt bằng (GPMB), tái định cư tại một số địa phương kéo dài; vốn bảo trì còn hạn chế trước diễn biến phức tạp của thiên tai, sạt lở.
Ba là, báo cáo số 769/BC-CP chưa lượng hóa chi phí phát sinh do chậm tiến độ, chưa cá thể hóa trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị cụ thể và kết quả xử lý.
Về tính thống nhất của số liệu, tính hợp pháp và tính khả thi, Ủy ban KH,CN&MT thấy rằng hồ sơ dự thảo Nghị quyết cơ bản bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp nhưng số liệu còn mâu thuẫn, chưa cập nhật và cần làm rõ.
Đối với nguồn vốn, tổng mức đầu tư nối thông toàn tuyến nêu 129.075 tỷ đồng (gồm 91.391 tỷ đồng dự án đã, đang đầu tư với vốn đã bố trí 83.920 tỷ đồng, chênh lệch 7.471 tỷ đồng chưa rõ nhu cầu quyết toán; và 37.684 tỷ đồng sơ bộ đoạn Cổ Tiết - Chợ Bến chưa đầu tư), nhưng việc tách dòng riêng nhóm dự án còn lại (13.969 tỷ đồng) dễ gây nhầm lẫn; vốn BT tại Phụ lục III ghi 12.698 tỷ đồng, lệch 1.213 tỷ đồng so với dự án BT duy nhất là La Sơn - Hòa Liên (11.485 tỷ đồng); số liệu vốn bố trí cho các dự án khởi công năm 2023 - 2024 cũng sai lệch giữa phần thuyết minh và chú thích.
Về tiến độ và pháp lý dự án, đoạn Rạch Sỏi - Bến Nhất, Gò Quao - Vĩnh Thuận (tổng mức đầu tư 4.145 tỷ đồng) ghi sản lượng không thống nhất (khoảng 73% ở Tờ trình, trên 70% ở Phụ lục III và 75% ở Phụ lục IV), còn 15,06/51,94 km (29% chiều dài) đang gia tải nền đất yếu nên mục tiêu thông tuyến năm 2026, khai thác quý I/2027 là thách thức kỹ thuật rất lớn.
Đề nghị cơ quan soạn thảo thống nhất thời điểm chốt số liệu, lập bảng cân đối vốn từng dự án; kiểm soát chặt chẽ quan trắc lún, tuyệt đối không vì áp lực tiến độ mà dỡ tải sớm khi chưa đạt độ cố kết thiết kế.
Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải cho biết, Ủy ban nhận thấy có đủ cơ sở để trình Quốc hội xem xét, quyết định việc kết thúc thực hiện các mục tiêu đề ra tại Nghị quyết số 38/2004/QH11 và Nghị quyết số 66/2013/QH13.
Cơ quan thẩm tra đề nghị Chính phủ tiếp thu, hoàn thiện hồ sơ và dự thảo Nghị quyết, tập trung vào các nội dung trọng tâm.
Thứ nhất, rà soát, thống nhất toàn bộ số liệu hồ sơ (tổng mức đầu tư, tiến độ, giải ngân), lập bảng cân đối nguồn vốn chi tiết từng dự án thành phần và báo cáo phương án xử lý vốn năm 2026 chưa giải ngân hết; bổ sung số liệu quyết toán GPMB, kết quả thực hiện kiến nghị thanh tra, kiểm toán
Thứ hai, chỉnh lý Điều 1 và Điều 2 của dự thảo Nghị quyết theo hướng ghi nhận kết quả nối thông thực tế, làm rõ phạm vi kết thúc dự án quy mô 02 làn xe, lược bỏ khoản 2 Điều 1; yêu cầu hoàn thiện thủ tục quyết định chủ trương đầu tư đoạn Cổ Tiết - Yên Bài theo Luật Đầu tư công trong Kế hoạch đầu tư công trung hạn 2026 - 2030.
Thứ ba, bảo đảm tiến độ thông xe trong năm 2026 đối với 03 đoạn đang thi công (đặc biệt là đoạn Rạch Sỏi - Bến Nhất, Gò Quao - Vĩnh Thuận khai thác quý I/2027), kiểm soát chặt chẽ quan trắc lún, tuyệt đối không dỡ tải sớm khi chưa đạt độ cố kết thiết kế.
Thứ tư, xử lý dứt điểm vướng mắc tại các trạm thu phí BOT theo Luật số 90/2025/QH15 và Nghị định số 122/2026/NĐ-CP; giải quyết triệt để vướng mắc bồi thường, tái định cư, ổn định sinh kế lâu dài cho người dân, nhất là đồng bào DTTS (lồng ghép Nghị quyết số 46/2026/QH16).
Thứ năm, bổ sung chế độ báo cáo Quốc hội vào Điều 3 về kết quả nối thông, quyết toán và xử lý BOT tại kỳ họp cuối năm 2027.
