Tư duy phát triển đô thị gắn với sông Hồng đã có từ ngàn xưa. Nhưng khi Hà Nội chuẩn bị cho cuộc chuyển mình vĩ đại hướng ra dòng sông mẹ, câu hỏi lớn nhất được đặt ra không phải là sẽ có bao nhiêu đại lộ thênh thang được mở, mà là sinh kế, văn hóa và tương lai của hàng vạn người dân bên đôi bờ sẽ được nâng tầm, tái thiết bền vững ra sao.
Dọc theo dải đất sa bồi sông Hồng, những nếp làng cổ chính là những chứng nhân lịch sử sống động nhất cho sự hình thành và phát triển của Thăng Long - Hà Nội. Đứng trước một bản quy hoạch mang tầm vóc thế kỷ, điều người dân mong mỏi nhất không chỉ là một diện mạo đô thị hiện đại, mà còn là sự rõ ràng, nhân văn trong phương án dịch chuyển, sự vẹn nguyên của mạch nguồn di sản nghìn năm tuổi khi dòng sông được đánh thức.
Tại tả ngạn sông Hồng, những băn khoăn và kỳ vọng mang tính lịch sử này đang được thảo luận một cách thẳng thắn, trách nhiệm ngay trong các nếp làng cổ thuộc phường Bồ Đề, quận Long Biên vào ngày cuối tháng 5.
Tại hội nghị tuyên truyền về dự án Trục Đại lộ Cảnh quan sông Hồng được chính quyền địa phương tổ chức, hội trường phường Bồ Đề chật kín người dân thuộc các tổ dân phố nằm trong vùng tác động. Họ mang đến đây không chỉ là những câu hỏi sát sườn về đất đai, sinh kế, mà là những trăn trở đầy tâm huyết về số phận của những mảnh đất tâm linh, di sản.
Tờ Dân Việt dẫn lời ông Nguyễn Văn Tuyên, Tổ trưởng tổ dân phố số 10, cụm Ngọc Thụy bày tỏ sự xúc động khi nhắc đến cội nguồn:
“Bắc Biên là làng cổ có lịch sử hơn 1.000 năm tuổi, gắn liền với lịch sử hình thành Thăng Long - Hà Nội. Nơi đây mang đậm dấu ấn tâm linh và văn hóa, cần được nhìn nhận như một vùng di sản đặc biệt cần bảo tồn trong lòng đô thị mới.”
Đồng quan điểm, người dân Bắc Biên kiến nghị thành phố giữ nguyên hiện trạng lõi làng cổ, áp dụng mô hình "làng trong phố" – một phương thức quy hoạch kết hợp chỉnh trang hạ tầng hiện đại với bảo tồn các công trình di tích quốc gia như đình Phúc Xá (thờ Thái úy Việt Quốc công Lý Thường Kiệt), chùa Bắc Biên và đặc biệt là quả Chuông Chùa An Xá vừa được vinh danh là Bảo vật Quốc gia.
“Chúng tôi mong mỏi địa phương ưu tiên chỉnh trang, cải tạo và nâng cấp thay vì giải tỏa trắng để xây mới hoàn toàn” - bà Nguyễn Thị Thân, Bí thư Chi bộ tổ dân phố 38 Bắc Cầu gửi gắm tâm nguyện.
Bên cạnh câu chuyện di sản, bài toán an cư cũng được người dân thẳng thắn đặt ra dưới góc nhìn xây dựng. Ông Nguyễn Văn Thuần, Tổ trưởng tổ dân phố số 8, cụm Bắc Biên nhấn mạnh: “Nguyện vọng thiết tha nhất của người dân là được hỗ trợ tái định cư tại chỗ hoặc cận cư để không bị đứt gãy sinh kế quen thuộc. Đồng thời, mọi quy trình từ đo đạc, khảo sát đến lập bản vẽ quy hoạch cần được thực hiện công khai, minh bạch để người dân được tham gia giám sát, tránh các tin đồn thất thiệt.”
Trước những trăn trở chính đáng của nhân dân, chính quyền địa phương đã đưa ra những phản hồi khách quan, kịp thời, giải tỏa nhiều nút thắt tâm lý.
Giải đáp trực tiếp tại hội nghị, ông Lê Thanh Xuân, Phó Chủ tịch UBND phường Bồ Đề khẳng định, việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo tồn di tích, di sản đều đã được đặt ra làm nguyên tắc cốt lõi ngay từ chủ trương đầu tư của dự án tại Nghị quyết 18 của HĐND Thành phố. Bản vẽ quy hoạch chi tiết hiện đang được hoàn thiện, dự kiến công bố rộng rãi.
“Thành phố có thông tin chính thức đến đâu, địa phương sẽ chủ động công khai ngay đến đó để nhân dân cùng nắm bắt và giám sát” - ông Xuân cam kết.
Đặc biệt, về chính sách đền bù và tái định cư – mối quan tâm lớn nhất của người dân, vị đại diện chính quyền mang đến một thông tin đầy hy vọng: Dự án Trục Đại lộ Cảnh quan sông Hồng thuộc danh mục công trình trọng điểm áp dụng Nghị quyết 258 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù cho Thủ đô. Nhờ đó, người dân dự kiến sẽ được áp dụng cơ chế bồi thường, hỗ trợ ưu việt hơn thông thường, với hệ số bồi thường, hỗ trợ cao hơn từ 1,5 đến 2 lần.
Ảnh sông Hồng: Báo Người lao động
Sau nhiều thập kỷ phát triển đô thị dựa lưng vào sông, Hà Nội đang chuẩn bị cho cuộc “quay mặt ra sông” vĩ đại nhất trong lịch sử phát triển đô thị.
Trong quy hoạch mới, sông Hồng không còn là biên giới tự nhiên chia cắt mà sẽ trở thành “trục không gian xanh trung tâm” – lõi phát triển mới của Hà Nội. Nếu đúng tiến độ, chỉ trong vòng một thập kỷ tới, những bãi ngô, vườn chuối, xóm lao động ven đê hay các khu dân cư tự phát tồn tại hàng chục năm qua sẽ nhường chỗ cho một cấu trúc đô thị hiện đại, xanh, sạch và kết nối đa chiều.
Trao đổi với phóng viên, GS. Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, nhìn nhận đây là dấu mốc thay đổi mang tính cách mạng trong tư duy phát triển của Hà Nội sau nhiều thập kỷ mở rộng cơ học về phía Tây.
Theo ông, từ hơn một thiên niên kỷ trước, khi vua Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, Người đã nhìn thấy thế “rồng cuộn hổ ngồi” – dựa vào sông, hướng về núi. Ngay cả người Pháp khi quy hoạch Hà Nội cũng phát triển dọc theo trục dòng chảy của dòng sông này với những đại lộ danh tiếng như Trần Hưng Đạo, Tràng Thi, Lý Thường Kiệt.
“Tư duy phát triển đô thị gắn với sông Hồng đã có từ ngàn xưa. Người Pháp từ nửa vòng trái đất tới đây cũng không đi chệch khỏi cách nhìn đó”, ông Võ phân tích và nhấn mạnh, “khi Hà Nội thông qua đề án Trục Đại lộ Cảnh quan sông Hồng, tôi rất mừng. Chúng ta đã chạm lại vào tư duy của hàng nghìn năm trước.”
Nhưng cũng giống như mọi đại quy hoạch đô thị trên thế giới, câu hỏi quan trọng nhất chưa bao giờ nằm ở việc vẽ ra bao nhiêu đại lộ hay xây dựng bao nhiêu công viên hiện đại, mà là: “Hàng vạn người dân dọc hai bờ sông Hồng sẽ sống ra sao khi một siêu dự án bắt đầu thay đổi toàn bộ vùng đất họ đã bám rễ qua nhiều thế hệ”?, nguyên thứ trưởng Đặng Hùng Võ nhấn mạnh.
Ảnh nhân vật: Nhịp sống thị trường
Nguồn: KTO
Khi nhắc đến "kỳ tích sông Hàn" của Seoul, người ta thường trầm trồ trước những cây cầu hiện đại, những đại lộ ven sông hay những cao ốc chọc trời. Nhưng dưới góc nhìn của GS. Đặng Hùng Võ, chìa khóa thực sự quyết định sự thành công của Hàn Quốc lại nằm ở một yếu tố nhân văn: cách họ ứng xử với con người trong cơn lốc đô thị hóa.
Ông kể, khi bắt đầu cải tạo sông Hàn theo hướng trị thủy kết hợp mở rộng Seoul, Chính phủ Hàn Quốc đã thành lập các tổng công ty phát triển đất đai của Nhà nước để đi sâu vào từng ngõ ngách, gặp gỡ từng hộ dân. Họ không chỉ đo đạc đất đai mà còn tìm hiểu kỹ nghề nghiệp, khả năng lao động, nhu cầu sinh sống cụ thể của từng gia đình trước khi đưa ra phương án dịch chuyển.
Theo chia sẻ của ông Võ, thời điểm khi thực hiện dự án, người dân dọc sông Hàn chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho doanh nghiệp nhà nước nhưng được định hướng, hỗ trợ chuyển đến những khu vực mới phù hợp hơn với năng lực mưu sinh của họ. Phần đất cũ được quy hoạch thành các khu đô thị hiện đại. Kết quả là cả người đi lẫn người ở lại đều nhìn thấy cơ hội có một cuộc sống tốt đẹp hơn, thay vì cảm thấy mình bị đẩy ra ngoài lề của sự phát triển.
“Điều quan trọng nhất không phải xây được bao nhiêu đại lộ đẹp, mà là người dân có được đồng hành và hưởng lợi từ sự phát triển hay không, đó mới là cốt lõi của một đại quy hoạch thành công”, GS Võ thẳng thắn nhìn nhận.
Ảnh nhân vật: Nhịp sống thị trường
Hà Nội hôm nay đang đứng trước đúng bài toán mà Seoul từng đối mặt nhiều thập kỷ trước. Với quy mô quy hoạch hơn 11.400 ha, riêng không gian dự án Trục Đại lộ Cảnh quan sông Hồng đã tương đương gần 1/5 diện tích toàn bộ thủ đô Seoul hiện tại.
Bài học lớn nhất rút ra là: nếu chỉ tập trung vào hạ tầng vật chất mà xem nhẹ công tác giải phóng mặt bằng, bảo đảm sinh kế và ổn định tâm lý xã hội, hệ quả tiêu cực có thể sẽ lấn át cả những lợi ích kinh tế mà dự án mang lại.
“Muốn an cư thì phải có việc làm. Người dân đến nơi mới rồi sống bằng gì mới là câu hỏi quan trọng nhất”, ông Võ nhấn mạnh.
Ông dẫn chứng, nếu di dời những người lao động tự do vùng bãi sông, điều cần tính toán đầu tiên là cơ hội việc làm của họ ở nơi mới. Do đó, Hà Nội cần phát triển song song các cực tăng trưởng, các đô thị vệ tinh hoàn chỉnh – nơi người dân chuyển đến không chỉ để có một mái nhà, mà là để tái tạo một cuộc sống bền vững.
“Phải nghiên cứu như một cặp song sinh: phát triển đô thị sông Hồng đi cùng một cực tăng trưởng mới”, ông Võ khẳng định.
Công viên dọc 2 bờ sông Hàn ở Seoul (Hàn Quốc). Nguồn: KTO
Đối mặt với một trong những thách thức quy hoạch lớn nhất lịch sử phát triển đô thị của mình, chính quyền thành phố Hà Nội đã chủ động xây dựng các định hướng, chính sách mang tính nhân văn sâu sắc nhằm đảm bảo tối đa quyền lợi của người dân bị ảnh hưởng.
Theo phương án điều chỉnh mới nhất được HĐND Thành phố thông qua, dự án Trục Đại lộ Cảnh quan sông Hồng sẽ kéo dài từ cầu Hồng Hà tới cầu Mễ Sở, đi qua địa bàn 16 xã, phường dọc hai bên sông. Tổng mức đầu tư dự kiến đạt gần 737.000 tỷ đồng (tương đương khoảng 27 tỷ USD) – một con số khổng lồ minh chứng cho tầm vóc và quyết tâm của Thủ đô. Quy mô sử dụng đất của toàn dự án lên tới hơn 11.400 ha, dự kiến hình thành hệ thống đại lộ đôi bờ dài 80 km kết hợp hài hòa với các không gian công cộng, quảng trường và các khu đô thị sinh thái xanh.
Tuy nhiên, quy mô khổng lồ của dự án cũng đồng nghĩa với một cuộc chuyển dịch dân cư lịch sử. Ước tính có khoảng 247.000 người, tương đương hơn 70.000 hộ dân bãi sông có thể nằm trong diện ảnh hưởng cần di dời, sắp xếp lại. Quy mô này lớn gấp khoảng 4 lần đại dự án Thủ Thiêm trước đây tại TP.HCM. Vì thế, các câu hỏi về địa điểm tái định cư, phương thức bồi thường và hỗ trợ sinh kế trở thành tâm điểm chú ý của dư luận xã hội.
Để giải quyết thấu đáo bài toán này, Nghị quyết số 18 vừa được HĐND TP. Hà Nội thông qua đã nhấn mạnh nguyên tắc nhất quán: Bồi thường, hỗ trợ tái định cư phải đảm bảo nơi ở mới "bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ". Thành phố ưu tiên tối đa phương án bố trí tái định cư tại chỗ hoặc lân cận nơi ở cũ nhằm hạn chế việc người dân bị tách khỏi không gian sống và sinh kế quen thuộc.
Nhằm cụ thể hóa cam kết này, thành phố xác định rõ lộ trình: Ưu tiên đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật và các khu tái định cư trước khi triển khai đồng bộ các hạng mục đô thị khác. Trong giai đoạn 2026-2030, Hà Nội sẽ tập trung đẩy nhanh tiến độ các công trình hạ tầng cốt lõi, bao gồm việc hoàn thiện các khu đô thị định cư chất lượng cao tại quận Long Biên (quy mô khoảng 201 ha) và phường Lĩnh Nam (quy mô khoảng 98 ha), đáp ứng kịp thời nhu cầu an cư của người dân.
Song song với việc giải quyết bài toán nhà ở, quy hoạch sông Hồng của Hà Nội đặc biệt chú trọng đến hai yếu tố sống còn:
Công tác giải phóng mặt bằng cũng được thành phố lên phương án phân kỳ đầu tư hợp lý, chia nhỏ thành các dự án thành phần độc lập để giảm áp lực chuyển dịch dân cư quy mô lớn, tránh gây xáo trộn đột ngột đời sống xã hội.
Quy hoạch trục đại lộ sông Hồng tương lai. Nguồn: UBND TP Hà Nội
Cùng chung quan điểm với GS Đặng Hùng Võ, TS.KTS. Đào Ngọc Nghiêm, nguyên Giám đốc Sở Quy hoạch - Kiến trúc Hà Nội cho rằng, thách thức lớn nhất của quy hoạch sông Hồng từ trước đến nay chưa bao giờ nằm ở các bản vẽ kỹ thuật hay giải pháp xây dựng hạ tầng.
“Trên hết vẫn là vấn đề lòng dân và sự đồng thuận”, ông Nghiêm khẳng định.
Nhìn lại hành trình hơn 30 năm qua, ông Nghiêm chia sẻ đã có hơn 20 quốc gia có kinh nghiệm phát triển đô thị ven sông thành công đến Việt Nam nghiên cứu và đề xuất các phương án quy hoạch. Nhưng rồi, tất cả các ý tưởng đó đều mới chỉ dừng lại ở mức nghiệm thu trên bàn giấy.
“Việc thành phố quyết tâm thông qua dự án lần này là một tín hiệu cực kỳ đáng mừng, nhưng chặng đường phía trước vẫn còn vô vàn thách thức”, ông Nghiêm nhấn mạnh và đặt câu hỏi: “Làm sao để một siêu dự án trở thành cú hích phát triển mới, mà không biến thành một cuộc dịch chuyển khiến hàng trăm nghìn con người cảm thấy mình bị đặt ra ngoài lề của sự thịnh vượng”.?
Sự băn khoăn của các chuyên gia lão thành chính là nút thắt đã và đang được tháo gỡ bằng bản lĩnh, sự thấu hiểu của những nhà làm chính sách. Thành công của một siêu dự án 27 tỷ USD không đo bằng khối lượng bê tông cốt thép hay chiều dài của các đại lộ, mà được đo bằng những nụ cười an cư, bằng việc những giá trị văn hóa ngàn năm của Thăng Long được tiếp nối và thăng hoa.
Ảnh nhân vật: Tạp chí Kiến trúc